Ý nghĩa hình tượng quan thế âm bồ tát

TÌM HIỂU VỀ HÌNH TƯỢNG QUAN THẾ ÂM BỒ TÁT

Quan Thế Âm Bồ Tát quan sát tiếng kêu than của chúng sinh trong thế gian để độ cho họ thoát khổ. Ngài là hiện thân của từ bi. Chỗ nào có chúng sinh khổ đau là có Ngài hiện thân đến đấy. Có nhiều lần Ngài hóa thân người nữ độ đời, nên người ta thường gọi Ngài là Phật Bà.

quan-the-am-bo-tat

Tiền thân:

Thuở đức Phật Bảo Tạng, Ngài là thái tử con vua Vô Tránh Niệm. Ngài theo vua cha đến nghe Phật thuyết pháp và thỉnh Phật cùng Tăng chúng về cung cúng dường. Do công đức ấy, được Phật thọ ký sau này làm Bồ- tát hiệu là Quán Thế Âm, phụ tá đức Phật A Di Đà giáo hóa chúng sanh và sau nữa sẽ thành Phật hiệu là Phổ Quang Công Đức Sơn Vương (kinh Bi Hoa quyển ba, phẩm Chư Bồ-tát bổn thọ ký).

Hạnh nguyện
--------------------------------
Căn cứ kinh Diệu pháp liên hoa, phẩm Quán Thế Âm Phổ Môn tường thuật, thì người nào niệm danh hiệu của Bồ-tát Quán Thế Âm, người ấy lửa lớn không đốt được, nước lớn không cuốn trôi được, dạ-xoa, la-sát không hại được; những ai sợ hãi thì Bồ-tát ban tặng cho sự không sợ hãi ; những ai bị trói buộc bởi tham, sân, si thì Bồ-tát làm cho hết tham, sân, si; những ai muốn có con trai hay con gái thì Bồ-tát cho họ được như nguyện.

Bồ-tát Quán Thế Âm dùng vô số phương tiện để nhiếp hóa chúng sanh, tùy nghi mà thị hiện, hoặc hiện bằng thân Phật, thân Phật Bích-chi, thân Thanh văn, thân Phạm Thiên… cho đến thân khẩn-na-la, ma-hầu-la-dà, thần Chấp kim cang… hễ với thân hình nào mà độ được chúng sanh thì Ngài đều biến hiện ra thân đó để mà hóa độ.

Bi hoa kinh, quyển 3, tường thuật sự kiện Bồ-tát Quán Thế Âm tự phát nguyện với Đức Phật. Kinh ghi: “Nguyện khi con hành Bồ-tát đạo, nếu có chúng sanh nào bị các khổ não, sợ hãi… có nguy cơ thối thất Chánh pháp, đọa vào đường dữ, ưu sầu, một mình côi cút, không người cứu hộ, không áo, không nhà, bần cùng cơ cực… nếu chúng sanh ấy có thể nhớ nghĩ đến con, niệm danh hiệu của con, vì chúng sanh ấy biết thiên nhĩ của con có thể nghe thấy, thiên nhãn của con có thể nhìn thấy, thì nếu chúng sanh ấy không thoát khỏi những khổ đau, ách nạn, con thề trọn không thành tựu quả vị A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề”. (Đại chính 3, tr.185c).

Bi hoa kinh còn cho biết, Quán Thế Âm là vị Bồ-tát Nhất sanh bổ xứ, Pháp thân Đại sĩ, đồng thời là vị Bồ-tát kế thừa vị trí của Phật A Di Đà. Công hạnh của Ngài cơ hồ đã viên mãn. Đã thành tựu công đức của mười phương chư Phật. Trong kinh có chỗ nói rằng, Quán Thế Âm vốn là Đức Chính Pháp Minh Như Lai ở đời quá khứ. Như vậy, Ngài là Phật mà hiện thân Bồ-tát. Ngài hiện thân trong vô lượng thế giới, dùng thân Bồ-tát để cứu chúng sanh gặp phải khổ nạn, thể hiện bi nguyện vô cùng rộng lớn của Ngài.

Bồ-tát Quán Thế Âm và Phật A Di Đà có một mối quan hệ vô cùng đặc biệt. Ngài không những là một trong ba vị Thánh ở phương Tây (Tây phương Tam thánh), mà có thuyết còn nói, chính Ngài là hóa thân của Phật A Di Đà.

Có người hỏi rằng, Bồ-tát Quán Thế Âm là người xứ nào? Đạo tràng của Ngài ở đâu? Kỳ thật, Quán Thế Âm là Đức Phật quá khứ hiện sinh trở lại thế giới này, cho nên không thể nói Ngài có đạo tràng cố định ở đâu, bởi vì không có chỗ nào mà Ngài không hiện thân (vô sát bất hiện thân). Ngài phụ giúp Phật A Di Đà tiếp độ chúng sanh về Tịnh độ. Cho nên, nếu có thể nói, thì đạo tràng của Ngài chính là thế giới Cực lạc. Tuy nhiên, theo kinh Hoa nghiêm và một số kinh khác thì đều cho rằng, đạo tràng của Ngài nằm ở núi Phổ-đà-lạc-dà, trên biển phía Nam Ấn Độ, đó chính là đạo tràng năm xưa của Bồ-tát Quán Thế Âm nơi thế giới Ta-bà này.

Tín ngưỡng
--------------------------------
Trong truyền thống Phật giáo Đại thừa, các vị Bồ-tát như Đại Từ Bi Quán Thế Âm, Đại Trí Tuệ Văn Thù, Đại Hạnh Nguyện Phổ Hiền, đều là những vị Bồ-tát được quần chúng Phật tử tín ngưỡng. Trong đó, Bồ-tát Quán Thế Âm được tín ngưỡng nhiều hơn hết. Vị Bồ-tát này có nguồn gốc tín ngưỡng từ Ấn Độ, truyền qua Tây Tạng, đến Trung Hoa, Nhật Bản, Nam Hải, Việt Nam…

Truyện Cao tăng Pháp Hiển, trong Đại Đường Tây Vực ký… có ghi chép sự tích những địa phương sùng bái Bồ-tát Quán Thế Âm ở Ấn Độ và các nước thuộc Tây Vực, trong đó, Đại Đường Tây Vực ký, quyển 10, ghi rằng, tại miền Nam Ấn Độ, có quốc gia tên là Mạt-la-củ-trá (Malakūta), gần ngọn núi Bố-đát-lạc-ca, có linh tích của Bồ-tát Quán Thế Âm.

Thời cận đại lại phát hiện ở Ellora, Kenheri, và Lộc Dã Uyển (Mrgadāva) có rất nhiều Thánh tượng Quán Âm. Trong đó, tại chùa Kenheri còn có rất nhiều bức tranh thể hiện sự cứu khổ cứu nạn của Bồ-tát, và cả tượng Bồ-tát Thập Nhất Diện nữa. Tất cả những hiện vật khai quật được đều chứng minh tín ngưỡng Quán Âm rất thạnh hành.

Tín ngưỡng Quán Thế Âm ở Tây Tạng cũng rất thạnh hành. Hiện nay, các Đạt-lai Lạt-ma (Dalai lama) đều được xem là hóa thân của Bồ-tát Quán Thế Âm.

Tại Trung Hoa, từ khi Trúc Phật Hộ đời Tây Tấn dịch Chính Pháp hoa kinh trở về sau mới bắt đầu hưng khởi tín ngưỡng Quán Thế Âm, như trong Pháp uyển Châu Lâm quyển 23 có thuật lại chuyện Trúc Trưởng Thư, trong khoảng niên hiệu Nguyên Khương (291-299), đời Tây Tấn, nhờ tụng kinh Quán Thế Âm mà thoát được nạn cháy. Ngoài ra, các sách như Tỳ-kheo-ni truyện, quyển 1, Danh Tăng truyện sao, Tục Cao Tăng truyện, quyển 25… đều có thuật chuyện của các vị Tông Ni, Trương Sùng, Từ Nghĩa, Khai Đạt, Pháp Trí, Trúc Pháp Thuần… nhờ xưng niệm danh hiệu của Bồ-tát Quán Âm mà được thoát khỏi các tai nạn nguy kịch.

Đến đời Dao Tần, ngài Cưu Ma La Thập (Kumārajīva) dịch kinh Diệu pháp liên hoa, thì tín ngưỡng Quán Âm lại càng thạnh hành hơn nữa. Các sách Danh Tăng Truyện Sao, Tục Cao Tăng truyện, Xuất tam tạng ký tập, Thái Bình ngự lãm, Kim thạch tục thiên… ghi chép không ít sự tích, lịch sử về tín ngưỡng Quán Thế Âm.

Nghệ thuật tạo hình và nguồn gốc thờ Bồ-tát lộ thiên
--------------------------------
Nhân tín ngưỡng Quán Âm thạnh hành nên phong trào tạo hình tượng của ngài cũng vô cùng phát triển. Từ thời Bắc Ngụy trở về sau, phong trào tạo tượng nổi tiếng nhất mà tác phẩm còn sót lại cho đến ngày nay phải kể là các vùng Đại Đồng, Long Môn, Đà Sơn. Thời Tùy, Đường, Mật giáo Tây Tạng truyền sang, bấy giờ mới tạo tượng Bồ-tát với các hóa thân Thập Nhất Diện, Thiên Thủ, Như Ý Luân.

Lại do có người vì dốc lòng tin nơi Bồ-tát mà có cảm ứng, từ những cảm ứng đó mà lưu hành các hình tượng của Bồ-tát gắn liền với những vật linh mà Ngài ngự tọa, như Cáp Lị, Mã Lang Phụ, Thủy Nguyệt, Ngư Lam…

Ngoài ra, vào thời Nguyên Ngụy còn xuất hiện những bản kinh không rõ nguồn gốc hoặc ngụy tạo liên quan đến Bồ-tát Quán Âm, như cuốn Cao vương Quán Âm kinh. Điều này cho thấy tín ngưỡng Quán Âm phổ cập và biến hóa trong mọi giai tầng xã hội dân gian.

Vào đời nhà Lương, khoảng giữa niên hiệu Trinh Minh, Thiền sư Huệ Ngạc, người Nhật Bản đến Trung Hoa học đạo đã thỉnh một tôn tượng Quán Thế Âm để đưa về Nhật Bản phụng thờ. Nhưng không ai ngờ rằng, khi ông đi đến quần đảo Chu Sơn (thuộc huyện Định Hải, Chiết Giang) thì gặp phải cuồng phong, sóng dữ, nên phải dừng lại hành trình về cố hương. Bấy giờ, Huệ Ngạc bèn thỉnh tôn tượng Quán Thế Âm lên trên một hải đảo nhỏ, dựng lều tranh, thiết trí tôn thờ. Dường như Bồ-tát Quán Thế Âm có nhân duyên với hòn đảo này, nên càng lâu ngày thì dân chúng đến chiêm bái, kính ngưỡng Thánh tượng càng đông; và rồi từ đó, hòn đảo này đã được đổi tên thành "Phổ Đà sơn", và trở thành đạo tràng của Bồ-tát Quán Thế Âm. Tín ngưỡng tôn thờ Quán Thế Âm lộ thiên cũng bắt nguồn từ đây.

Tuy nhiên, có thể nói rằng, đạo tràng của Bồ-tát Quán Thế Âm không có một nơi nào nhất định, mà ở đâu có tín ngưỡng vững chắc, ở đâu có tinh thần đại bi cứu thế của Bồ-tát Quán Thế Âm, thì ở đó chính là Phổ Đà, ở đó đích thực có Quán Âm.

Đại sư Thái Hư nói rằng: "Tâm thanh tịnh thì ở đâu cũng Phổ Đà, và lòng từ bi cứu độ chúng sanh chính là Quán Âm".

Tùy cơ ứng hóa là hạnh nguyện đặc sắc của Bồ-tát Quán Âm. Đại bi thần chú cho chúng ta biết Bồ-tát Quán Thế Âm có nghìn tay nghìn mắt. Nghìn tay biểu thị năng lực vĩ đại cứu giúp chúng sanh; nghìn mắt biểu thị trí tuệ sáng soi không nơi nào là không chiếu đến. Đây là hình ảnh biểu trưng cho trí tuệ và lòng từ bi của Bồ-tát, làm phương tiện tiếp dẫn chúng sanh quay về con đường Chánh giác. Có thể nói rằng, phương tiện giáo hóa của Bồ-tát Quán Thế Âm vô cùng rộng lớn, không một nơi hẻo lánh, xa xôi, bé nhỏ nào mà Ngài không đến. Trong kinh Pháp hoa, phẩm Phổ môn, tường thuật rất chi tiết về phương tiện giáo hóa của Bồ-tát Quán Thế Âm. Chẳng hạn, nếu có những chúng sanh cần đến thân Phật thì mới độ được thì Bồ-tát Quán Thế Âm liền hiện thân Phật để thuyết pháp cho chúng sanh ấy; cho đến, nếu có những chúng sanh cần đến thân dạ-xoa, a-tu-la, nhân, phi nhân… mới độ được họ, thì Ngài liền hiện ra thân loài đó để mà thuyết pháp; những chúng sanh hiện thật trong thế gian, như cư sĩ, nông phu, công thương, quân chính… cũng được Bồ-tát thị hiện ra những thân phận ấy để mà thuyết pháp độ cho họ. Phương tiện tùy loại ứng hóa là hạnh đồng sự nhiếp của chư Bồ-tát, không phải riêng Bồ-tát Quán Thế Âm.

Ngoài hình tượng nghìn tay, nghìn mắt, còn có hình tượng Quán Âm 18 tay, Quán Âm 4 tay. Nhưng có lẽ thực tế nhất và cũng là đẹp nhất chính là khi Ngài hiện thân con người với đầy đủ đức tướng trang nghiêm, mà tùy theo niềm tin và sự cảm ứng, mọi người thường thấy Ngài hiện thân như một người mẹ hiền! 

Ở Việt Nam cũng như rất nhiều nơi trên thế giới, các người dân tín phật đều mang hình tượng Quan thế âm bồ tát ( tượng phong thủy ) về thờ như một tín ngưỡng tâm linh với mong ước Phật pháp sẽ cứu sinh cho muôn loài.

Viết bình luận

Note: HTML is not translated!
    Bình thường           Hay